Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Muống biển chữa cảm, sốt rét

Hỏi: Xin cho hỏi rau muống biển có công dụng chữa bệnh gì?

(Trần Văn Hoài - Kiên Giang)

Trả lời: Rau muống biển tên khoa học Ipomoea biloba Forsk, (Ipomoea maritima R. Br., Convolvulus pescaproe L. Batatas maritima Bojer).

Thuộc họ Bìm bìm Convolvulaceae.

Mô tả cây

Muống biển là một loại cây cỏ mọc bò rất dài, không mọc leo, phân rất nhiều cành, thân tím như thân rau muống ăn, nhưng đặc và không rỗng như thân rau muống, có 2 đường rãnh nông hai bên thân dọc theo chiều dài từ mấu nọ đến mấu kia. Lá mọc cách gần như nhình vuông, phía cuống hình tim, đầu hơi tròn và xẻ thành hai như hình móng chân con trâu, cuống dài 5 - 7cm có khi tới 12cm, phiến lá dài 4 - 6cm, rộng 5 - 7cm, hai mặt đều nhẵn. Lá non có hai mảnh cụp vào nhau. Hoa lớn màu hồng tím giống như hoa rau muống, mọc thành xim ít hoa ở kẽ lá, cuống chung dài 2 - 4cm, 5 nhị màu trắng đính vào cuối tràng hoa, bao phấn chia 2 ngăn nứt theo chiều dọc, tua nhị phình to phía dưới, có lông, bầu thượng.

Khi ngắt lá có nhựa đục trắng chảy ra giống như nhựa khoai lang. Dây mọc bò lan trên mặt đất, bò lan đến đâu rễ mọc đến đấy.

Công dụng và liều dùng

Nhân dân dùng muống biển làm thuốc chữa cảm mạo, sốt, sốt rét, tê thấp, chân tay đau nhức, mỏi, thông tiêu tiện, chữa thủy thũng, đau bụng.

Dùng ngoài, lá muống biển tươi giã nát đắp lên các vết loét, mụn nhọt đang mưng mủ. Hoặc phơi khô, tán nhỏ, rắc lên những nơi bị bỏng.

Tại Campuchia có nơi dùng lá giã nhỏ, trộn với lá dây đau xương, củ sả và vỏ dừa đốt lấy khói xông lên chỗ trĩ hậu môn.

Liều dùng hàng ngày 20 - 30g dưới hình thức thuốc sắc hay xông.

(Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

của GS. ĐỖ TẤT LỢI

Vị thuốc có tên chó

Cây chó đẻ:

Còn được gọi với nhiều tên khác như: chó đẻ răng cưa, diệp hạ châu, cam kiềm, rút đất, khao ham (Tày), tên khoa học Phyllanths urinaria L., tên đồng danh: P. amarus, P. cantoniensis Hornem., P. alatus Blume, thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Sở dĩ có tên chó đẻ vì người ta quan sát thấy những con chó mẹ sau khi sinh thường đi tìm loại cây này ăn để chữa ứ huyết. Cây có tên là diệp hạ châu, vì có các hạt tròn nằm dưới lá. Ngoài ra còn có nhiều tên khác: trân châu thảo, diệp hạ châu đắng, diệp hòe thái, lão nha châu...

Vị thuốc có tên chó

Chó đẻ là loại cây sống hàng năm hoặc sống dai, cao 20 - 30cm. Thân nhẵn, màu đỏ, thường phân nhánh nhiều. Lá mọc so le, xếp hai dãy sít nhau có hình thuôn bầu dục hay trái xoan ngược, mặt trên màu xanh nhạt, mặt dưới hơi mốc. Hoa mọc ở nách lá, hoa đực ở ngọn cành, hoa cái đơn độc ở gốc cành. Quả nang hơi đỏ, hình cầu, có gai nhỏ, chứa 6 hạt hình tam giác, màu nâu nhạt.

Mùa hoa quả tháng 4 - 8.

Ở Việt Nam, chó đẻ mọc hoang khắp nơi, thường thấy ở các bãi cỏ, ruộng vườn, đất hoang. Người ta thường thu hái toàn cây quanh năm, tốt nhất vào mùa hè - thu, rửa sạch đất cát, cắt khúc ngắn, dùng tươi hoặc phơi trong chỗ râm mát để dùng dần.

Trong chó đẻ răng cưa có các thành phần flavonoid, alcaloid phyllanthin và các hợp chất hypophyllanthin, niranthin, phylteralin.

Theo Đông y, chó đẻ có vị đắng, tính mát, tác dụng lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng, tán ứ, thông huyết, điều kinh, thạch can nhiệt, làm sáng mắt, hạ sốt.

Thường dùng chữa viêm hầu họng, ung nhọt, đinh râu, lở ngứa, chàm má, tưa lưỡi, viêm da thần kinh, sản hậu ứ huyết.

Ngày nay, người ta ứng dụng điều trị viêm thận phù thũng, viêm niệu đạo, viêm ruột, lỵ, viêm kết mạc, viêm gan.

Ngày dùng 8 - 16g khô, sắc uống, hoặc dùng cây tươi 20 - 40g rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống, bã dùng đắp lên chỗ đau.

Dùng ngoài, lấy cây tươi rửa thật sạch với nước muối, giã nát, đắp lên vết thương chảy máu, mụn nhọt hoặc các đầu khớp bị sưng đau.

Chú ý phân biệt với một cây khác, cũng mang tên chó đẻ răng cưa, còn có tên cam kiềm, tên khoa học Phyllantus niruri L., thuộc họ Thầu dầu. Phân bố ở một số tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng (Thái Bình, Hải Dương...).

Về hình dạng thực vật, cây này cũng giống như cây thân xanh nói trên, song cây chỉ cao khoảng 5 -10cm; thân, cành có màu tía đỏ, quả có màu đỏ.

Người ta thường dùng toàn cây, sắc đặc, lấy nước ngậm chữa đau răng lợi, hôi miệng, thông tiểu, thông sữa, còn dùng trị viêm gan vàng da.

Cây đuôi chó:

Còn gọi là đuôi chồn tóc, đuôi chồn quả đen, Hầu vĩ tóc, tên khoa học Uraria crinita (L) Desv.ex D., thuộc họ Đậu (Fabaceae).

Đuôi chó là loại cây nhỏ, cao khoảng 1,5m. Lá có 3-5 lá chét hình trái xoan dài. Hoa màu tím nhạt, xếp thành chùm ở ngọn, hình trụ, dạng bông. Quả hình đậu, đen bóng có 3 - 5 đốt.

Cây ra hoa vào khoảng tháng 7 - 9.

Cây đuôi chó mọc hoang khắp nơi, thường gặp trong các thảm cỏ cây bụi khô, rừng tre.

Người ta thu hái toàn cây để làm thuốc, tốt nhất vào mùa hè- thu, rửa thật sạch đất cát, dùng tươi hay phơi khô để dùng dần. Lá tươi cũng có thể ăn như một loại rau.

Theo Đông y, vị thuốc đuôi chó có vị ngọt dịu, tính mát, tác dụng sát trùng, cầm máu, tiêu viêm. Thường dùng chữa cảm lạnh, ho, ho ra máu, đi tiểu ra máu, đầy hơi, tiêu chảy, trẻ em biếng ăn và suy dinh dưỡng.

Ngày dùng 30 - 50g khô sắc uống.

Trong cây đuôi chó có chứa hàm lượng lớn chất flavonoid, có tác dụng như một chất chống oxy hóa mạnh, được dùng bào chế thành thuốc chống viêm, giảm đau, kháng khuẩn.

Rễ của cây có tác dụng điều trị tiêu chảy.

Qua nghiên cứu, cây đuôi chó có thể giúp cơ thể tăng cường hấp thụ canxi, đồng thời tăng cường sản sinh dịch khớp, tái tạo xương và sụn khớp, phục hồi khớp bị thoái hóa.

Ở Malaysia và Ấn Độ, rễ sắc nước uống dùng trị ỉa chảy. Cũng được sử dụng để trục giun và dùng cho trẻ em bị đầy hơi và phụ nữ sau khi sinh.

Ở Indonesia, người ta dùng toàn cây chữa lỵ, ỉa chảy, lá lách sưng to, đau gan, rò, mụn mủ, bướu.

Ở Ấn Độ, lá giã ra dùng ngoài đắp vào người khi bị sưng lách, sưng gan; hoa được dùng làm chế phẩm trị mụn xuất hiện sau bệnh đậu mùa.

Dùng ngoài, lấy cây tươi rửa thật sạch, giã nát, đắp chữa mụn nhọt.

Lưu ý: phụ nữ có thai kiêng dùng.

Cỏ đuôi chó:

Còn gọi là cẩu vĩ thảo, khuyển vĩ thảo, quang minh thảo, tên khoa học Setaria viridis (L.) Beauv., thuộc họ Lúa (Poaceae).

Cỏ đuôi chó là cây thảo hàng năm. Thân cao khoảng 10 - 50cm. Lá phẳng, hình dải, có mũi nhọn dài, có lông rải rác ở mặt trên, với mép dày, chùy dạng bông, hình trụ, dày đặc hoa, màu lục hay đỏ. Bộ phận làm thuốc là thân và hạt, thu hái tốt nhất vào mùa hè - thu. Cỏ đuôi chó thường mọc ở các bãi cỏ, ruộng hoang khắp nơi trong nước.

Vị thuốc có tên chó

Theo Đông y, cỏ đuôi chó có vị đạm (nhạt), tính lương (mát), tác dụng thanh nhiệt, lợi niệu, giải độc tiêu thũng. Thường dùng chữa trúng nắng, can nhiệt gây đỏ mắt, thũng độc, tiểu tiện khó, tiểu ít, tiểu nóng.

Ngày dùng 12 - 16g, dạng thuốc sắc uống. Dùng ngoài rửa thật sạch, sắc lấy nước rửa mắt đỏ đau. Người ta còn dùng thân cỏ đuôi chó làm thức ăn gia súc. Hạt cũng được dùng để nấu cháo, nấu chè.

Rong đuôi chó:

Rong đuôi chó còn gọi là đuôi chồn, tên khoa học Ceratophyllum demersumL., thuộc họ Rong đuôi chó (Ceratophyllaceae).

Cây thảo sống dai, không có rễ, mọc chìm lơ lửng trong nước; cành dài, nhỏ. Lá mọc đối, 2 cái ở mỗi mắt, phiến lá lưỡng phân 3 - 4 lần làm thành các đoạn nhỏ hình sợi hơi cứng, mép có răng. Hoa đơn độc ở nách lá, cùng gốc; lá đài nhiều, cánh hoa trắng; nhị nhiều (đến 30), xếp thành nhiều vòng; không có chỉ nhị. Quả bế hình trứng có mũi nhọn và 2 sừng dài đến 1cm.

Ra hoa vào mùa xuân - hè.

Rong đuôi chó là loài phân bố toàn thế giới. Ở Việt Nam, cây mọc phổ biến trong các ao hồ từ vùng thấp đến vùng cao 1.500m; cũng thường được thả trong các bể cá.

Người ta dùng toàn cây (Herba Ceratophylli Demersi) để làm thuốc.

Các đoạn lá rong có chứa chất myrophyllin.

Theo Đông y, rong đuôi chó có vị nhạt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ, cầm máu.

Ở Trung Quốc, cây được dùng trị nội thương xuất huyết, viêm tuyến mang tai, viêm khí quản mạn tính. Ngày dùng 4-8g.

Ở Ấn Độ, cây được dùng chữa thiểu năng mật và dùng trị bò cạp đốt.

Cây chân chó:

Còn gọi là cẩu cước thảo, cây hoa khế, cáp mộc hình sao, tên khoa học Crai biodendron stellatum (Pierre) W.W Sm., thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae).

Cây gỗ nhỏ thường xanh, cao 4 - 6m, nhánh non không lông. Lá có phiến bầu dục, không lông, mặt dưới có tuyến nhỏ và gân phụ làm thành mạng mịn rõ, có lông mịn, hoa màu trắng, hình chuông. Quả nang có 5 cạnh tròn, 5 ô. Hạt có cánh.

Cây chân chó thường gặp ở vùng núi cao tỉnh Lâm Đồng, Kon Tum. Người ta thu hái rễ cây và vỏ cây để làm thuốc.

Rễ cây chân chó được dùng chữa phong thấp, viêm đau khớp xương. Ngày dùng 12 - 16g, sắc uống hoặc ngâm rượu uống.

Vỏ cây chân chó sắc đặc dùng để rửa các vết thương.

Cây cẩu tích:

Còn gọi là cẩu tồn mao, kim mao cẩu tích, cây cu ly, cây lông khỉ, tên khoa học Cibotium barometj (L).J.Sm., thuộc họ Cẩu tích (Dicksoniaceae).

Cây cẩu tích là một loại dương xỉ thụ trạng, thân rễ to, ngắn, hơi nạc, phủ lông tơ dày màu vàng nâu. Lá kép 3 lần lông chim, dài tới 2m, mặt dưới có nhiều túi bào tử màu nâu nhạt. Mùa có bào tử tháng 10-1.

Cẩu tích mọc hoang khắp nơi ở miền núi, nơi đất ẩm, gần bờ suối. Người ta thu hái thân rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa hè-thu. Đem về cắt bỏ rễ con và cuống lá, cạo hết lông vàng (để riêng dùng làm thuốc cầm máu). Sau đó rửa sạch, thái lát hay cắt từng đoạn dài 4 - 10cm, phơi hoặc sấy khô. Có khi đồ chín mềm rồi mới đem phơi khô, khi dùng thường tẩm dược liệu với rượu, để ủ một đêm rồi đem sao vàng.

Theo Đông y, cẩu tích có vị đắng ngọt, tính ấm, vào hai tinh can, thận, tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, trừ phong thấp. Thường dùng chữa phong hàn thấp gây đau lưng, nhức mỏi tay chân, đau thần kinh hông, khí hư, người cao tuổi đi tiểu són, tiểu không cầm được, tiểu nhiều lần, tiểu dắt.

Ngày dùng 10 - 20g khô, dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống. Thường kết hợp với ngưu tất, đồ trọng, ý dĩ, mộc qua, cốt toái bổ, đương quy, tang chi... để chữa phong thấp, can thận yếu. Lông vàng dùng đắp lên các vết thương chảy máu để cầm máu.

Những người thận hư mà có nhiệt (nội nhiệt), tiểu tiện bí, nước tiểu màu vàng đỏ, thì không nên dùng cẩu tích.

Cây gan chó:

Còn gọi là rau gan chó (cẩu can thái), cây gan heo, lục dũng thái, thanh xà thái, cây lá diễn, tên khoa học Dicliptera chinensis (L.) Nees, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).

Gan chó là cây thảo sống hàng năm hay vài ba năm, cao 30 - 80cm, thân và cành non có 4 cạnh, có lông tơ, các mấu phình to tựa như đầu gối. Lá mọc đối, màu xanh lục, phiến lá hình trứng thuôn, đầu và gốc đều nhọn, có lông thưa. Hoa màu trắng hồng, mọc thành xim ở nách lá và ở đầu cành. Các lá bắc hình trái xoan. Quả nang ngắn, có lông tơ ở phía đầu. Hạt dẹt. Mùa ra hoa từ mùa đông đến mùa hè.

Cây gan chó mọc hoang ở chỗ ẩm ướt và cũng được trồng để lấy lá nấu canh và lấy toàn cây làm thuốc. Người ta thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc phơi khô. Loại cây này gặp nhiều ở các nước Đông Nam Á.

Theo Đông y, cây gan chó (lá diễn) có vị ngọt nhạt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu, hương huyết, sinh tân dịch.

Thường dùng chữa cảm mạo phong nhiệt, sốt cao, viêm phế quản, viêm gan cấp, viêm kết mạc, viêm ruột, lỵ nhiệt, phong thấp, viêm khớp, đi tiểu ít, đi tiểu ra đường trấp. Ngày dùng 30 - 60g cây khô hoặc 60 - 120g cây tươi, dạng thuốc sắc uống.

Dùng ngoài, lấy lá tươi rửa thật sạch, giã nát, xoa trị lở sưng, rôm sảy, mụn nhọt, bỏng rạ.

Chữa cảm mạo phong nhiệt, thường dùng bài thuốc: cây gan chó 40 - 50g, rau má 40g, bạc hà 20g, kinh giới 20g, sắc với 750ml nước, còn lại 200ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Người ta còn dùng lá cây gan chó để nấu canh với thịt heo nạc, ăn rất thơm ngon, lại có tác dụng nhuận gan, giải nhiệt độc có hiệu quả.

Lương y Đinh Công Bảy

Mách bạn thuốc hay: chữa sốt do nắng nóng bằng quả me

Quả me là quả của cây me, quả màu nâu, bên trong chứa cùi thịt và nhiều hạt có vỏ cứng. Cùi thịt quả non rất chua trong khi cùi thịt của quả chín có vị ngọt hơn. Theo nghiên cứu hiện đại, trong quả me có nhiều vitamin C, B, khoảng 14% acid tartaric và một số nhỏ malic acid... giúp kích thích vị giác, cải thiện tình trạng kém ăn, mệt mỏi do nắng nóng hay buồn nôn, giảm khẩu vị do mang thai. Trái me góp phần bù nước, điện giải, cung cấp vitamin, khoáng chất, vị chua mặn giúp giải nhiệt. Me là loại quả dân dã được bán nhiều ở các chợ nhất là vào những tháng đầu hè. Quả me không chỉ là gia vị chế biến các món ăn mát bổ trong mùa hè như canh cá, nước rau muống luộc dầm me, làm ô mai... mà còn là vị thuốc. Thuốc từ quả me rất dễ làm mà chữa bệnh lại hiệu quả. Trong Đông y, quả me có vị chua, tính mát, thanh nhiệt, giải khát, tăng cường tiêu hóa. Chữa các bệnh: phụ nữ mang thai nôn nghén, chán ăn; chữa ho, làm ấm bụng, kích thích tiêu hóa; trị chứng hay chảy máu chân răng; chữa sốt do nắng nóng...

Phụ nữ mang thai nôn nghén, chán ăn: Quả me xanh 30g, đường trắng 10g. Me cạo vỏ cho vào nồi nấu với 300ml nước, đun còn 200ml, chắt nước bỏ bã. Cho đường quấy đều, chia uống 3 lần trong ngày. Uống trong vài ba ngày liên tiếp. Hoặc ngày ngậm 5 - 7 lần ô mai me.

Quả me.

Chữa ho, làm ấm bụng, kích thích tiêu hóa: Ngậm ô mai me vài lần trong ngày. Cách làm ô mai me: Quả me xanh đem cạo vỏ ngoài, rửa sạch, để ráo nước, giã nát với gừng tươi cho thật nhuyễn, loại bỏ xơ. Thêm đường đủ ngọt. Đun nhỏ lửa, đảo đều cho bay bớt nước. Trộn với bột cam thảo vừa đủ khô, rồi đóng khuôn làm thành dạng ô mai. Bài thuốc này vừa đơn giản mà lại hiệu quả.

Trị chứng hay chảy máu chân răng: 3 - 5g thịt từ quả me chín pha với một chén nước ấm uống trong ngày, uống vào buổi sáng sau bữa ăn. Dùng liên tục trong 7 ngày. Hoặc 20g quả xanh, nạo bỏ vỏ, đun với hai bát nước còn một bát, chia uống hai lần trong ngày, khi uống có thể cho thêm ít đường hoặc mật ong. Uống từ 5 - 7 ngày.

Giải nhiệt ngày hè: 20g thịt quả me chín pha với 200ml nước, khi pha cho thêm ít đường, khuấy đều, uống hàng ngày. Cách làm này rất đơn giản mà hiệu quả trong những ngày hè nóng bức.

Chữa sốt do nắng nóng: 15g quả me xanh đã nạo vỏ, đem đun khoảng 1 bát nước, khi sôi dầm nát quả me, sau đó bỏ vỏ và hạt, chắt lấy nước, khi uống pha thêm mật ong. Bài thuốc này, giúp cơ thể hạ nhiệt nhanh chóng, người bệnh cảm thấy thèm ăn.

Giúp giảm đau nhức xương khớp: 100g quả me xanh, đem đun với nước, khi chín vớt ra dầm nát lấy phần thịt (bỏ vỏ và hạt), để nguội trộn với muối đã giã nhỏ thoa đều lên chỗ xương khớp đau nhức, nên thoa vào trước các giấc ngủ trưa và tối. Mỗi liệu trình trong 7 ngày.

Bác sĩ Hoàng Minh

Các bài thuốc thuốc từ cây hành ta

Hành ta là gia vị của nhiều món ăn, là vị thuốc giàu dược tính. Theo Y học cổ truyền, hành ta vị thuốc còn gọi thông bạc, vị cay, khí ấm, tính bình, tác dụng giải biểu, hòa trung, sát trùng, thông kinh, lợi tiểu... trị chứng thương hàn, phong nhiệt, đau đầu, phong tê thấp... Hành hoa thuận khí an thai, chi huyết hòa trung, ích 5 tạng, giải được thuốc nóng, cá thịt độc...

Tài liệu còn cho biết hành có chứa protein, chất béo, chất xơ, canxi, phospho và kali, caroten, alixin và đặc biệt hành có công năng kháng vi khuẩn, virut, nấm trong cơ thể. Hành giàu vitamin và khoáng chất, ít năng lượng. Người bị cảm cúm, tim mạch, huyết áp, đái tháo đường, viêm nhiễm, béo phì thừa cân, ngoại cảm phong hàn, nội thương thấp trệ đều có thể dùng hành...

Chữa phụ nữ có thai bị cảm (cảm lạnh, cảm cúm, ho thở, nhiều đàm, tâm phiền bứt rứt): hành hoa cả cây 30g, hoặc thêm vỏ quít (trần bì) 12g. Sắc nước uống ấm.

Chữa phụ nữ động thai (đau bụng dưới, mỏi thắt lưng, có khi ra dịch màu hồng nhạt): hành hoa cả rễ một nắm 40g, nấu nước uống.

Cháo hành gừng tía tô trị cảm cúm.

Chữa chóng mặt: biểu hiện khi nằm cũng chóng mặt do đàm thấp huyết ứ. Dùng hành xào giá đậu thịt heo hoặc các món ăn khác cho nhiều hành mà ăn.

Chữa đái tháo đường (người đái tháo đường mà tay chân tê lạnh): ăn các món xào, nấu canh, nấu súp, hủ tiếu, phở, cháo nên cho hành nhiều hành.

Chữa đau tức ngực sườn do tâm thống huyết ứ (hay đau tức ngực, khó thở hồi hộp...): hành hoa, hoặc hành củ xào, luộc, ăn tuần vài lần.

Chữa tắc tia sữa (tắc tia sữa, vú sưng đau): hành hoa một nắm 40g. Sắc nước uống.

Chữa bí tiểu (tiểu khó phải rặn mải mới ra vài giọt, bụng tức): hành cả cây giã xào nóng đắp chườm bụng dưới cho ấm vào trong, kết hợp sắc nước cho uống rất hay.

Chữa chứng âm hư ngoại cảm (người gầy gò, sợ gió không ra mồ hôi, cảm ho): hành 20g, đậu xị 12g, cát cánh 10g, sinh khương 6g, thục địa 16g, mạch môn 10g. Sắc uống ấm.

Chữa cảm cúm thông thường (đau đầu nghẹt mũi, không ra mồ hôi): hành hoa, tía tô, gừng tươi nấu cháo ăn đắp chăn cho ra mồ hôi.

Chữa mụn nhọt: dùng hành củ nướng chín giã nát đắp vào mụn nhọt khi còn nóng.

Chữa đau bụng do giun (đau cơn, buồn nôn có khi nôn ra giun): hành tươi 40g giã vắt nước cốt trộn dầu mè cho uống.

Kiêng kỵ: Hành vị cay khí ấm giải biểu ra mồ hôi, vì vậy người nội nhiệt, ra nhiều mồ hôi, đau mắt đỏ, đau đỉnh đầu miệng khô khát, mặt đỏ, tiểu vàng, đại tiện khó, hạn chế dùng hành hoặc dùng hành nên kết hợp nhiều món ăn vị thuốc khác.

Lương y Minh Phúc

Mướp đắng làm giảm nồng độ men gan

Sở dĩ mướp đắng có tác dụng này là vì: mướp đắng có rất nhiều nước, nước có công dụng chuyển chất độc tới thận để thải ra ngoài. Mướp đắng lại có tính hàn, bớt sinh nhiệt, giảm nhiễm độc do nóng trong. Mướp đắng còn có tác dụng tăng cường chức năng gan, nên tăng khả năng thanh thải cho cơ thể. Mướp đắng còn có kháng sinh tự nhiên, nên có khả năng tiêu diệt các mầm bệnh gây độc.

Mướp đắng giàu chất xơ có tác dụng kích thích vận động đường mật nên tốt cho tiết mật. Mướp đắng còn có tác dụng làm giảm nồng độ các men gan viêm như: AST, ALT (sự gia tăng các men này là một dấu hiệu cho tế bào gan đang bị viêm nặng). Mướp đắng còn được thực nghiệm chứng minh làm giảm nồng độ bilirubin trong máu (tăng bilirubin là một biểu hiện chứng tỏ gan chuyển hóa kém, đường mật đang bị tắc).

Vì thế mà mướp đắng là một loại quả rất tốt để điều trị các bệnh gan mật có tác dụng lợi gan, lợi mật nên mẹ bạn hoàn toàn có thể sử dụng.

Cỏ mật cá giải độc

Cỏ mật cá còn có tên khác là mật đất, thằm ngăm đất, sản đắng, người Thái gọi là co kham đin... thuộc họ hoa mõm sói. Là loài cây thân cỏ, sống hằng năm cao khoảng 20cm, phân rất nhiều nhán. Lá mọc đối, có khía răng, cuống dài, có rìa cánh. Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá. Quả nang dẹt, nằm trong đài còn lại, trông giống con hến. Hạt hình trụ, màu vàng, hơi thắt ở giữa. Toàn cây có vị rất đắng, do đó có tên là “mật đất” hay “mật cá”. Mùa hoa quả vào tháng 9 - 11. Cây mọc hoang dại ở những nơi ẩm mát, ở khắp các miền rừng núi nước ta.

Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây, có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất là mùa hạ; phơi hay sấy khô, bảo quản nơi khô mát để sử dụng dần.

Cỏ mật cá có tác dụng thanh nhiệt giải độc.

Một số bài thuốc thường dùng

Bài 1: Chữa kém ăn, mất ngủ: Cỏ mật cá, bá tử nhân (trắc bách diệp), hạt táo chua (lấy nhân sao già), hoài sơn, hạt sen, mạch môn mỗi vị 10g. Tất cả cho vào ấm đổ 800ml nước, sắc còn 250ml nước, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng liền 10 ngày.

Bài 2: Chữa đau bụng do giun: Cỏ mật cá 30g, bỏ gốc, rửa sạch, cho vào ấm đổ 500ml nước, sôi, đun nhỏ lửa còn 150ml nước đặc, uống lúc đói bụng, dùng liền 3 ngày.

Bài 3: Ăn uống khó tiêu, tăng cường tiêu hóa: Cỏ mật cá sao cho thơm 100g, rượu trắng 1 lít, đường hay mật ong 300g. Cho cỏ mật cá vào bình, đổ rượu, mật ong vào ngâm, mỗi ngày lắc 1 lần, ngâm trong 15 ngày trở lên. Mỗi ngày uống 1 chén con (khoảng 20ml) trước bữa ăn cơm.

Bài 4: Chữa tiểu tiện sẻn đỏ do nhiệt: Cỏ mật cá tươi, chừng 1 nắm (khoảng 20 - 30g), sắc nước uống trong ngày. Rửa sạch, đổ 700ml nước đun nhỏ lửa còn 250ml nước đặc, uống lúc đói bụng, dùng liền 10 ngày.

Bài 5: Chữa thiếu máu, người mệt mỏi, kém ăn (có thể dùng cho sản phụ sau sinh): Cỏ mật cá 10g, sâm đại hành 10g, nghệ vàng 20g. Mật cá rửa sạch cho 800ml nước đun nhỏ lửa còn 200ml; sâm đại hành và nghệ vàng thái nhỏ, sấy khô, tán bột, uống cùng với nước sắc cỏ mật cá. Ngày 1 lần, trước ăn 30 phút, dùng liên tục 7 - 10 ngày.

Bác sĩ Trần Thị Hải

Rau dền hỗ trợ trị tăng huyết áp

Theo dược tính hiện đại, trong 100g rau dền có 22 Kcal trong đó có 91g nước, 4g protein, 3g glucid, 67mg photpho, 500mg kali, 242mg canxi, 105mg magiê, 0,5mg mangan, 2mg nicotinamid, 45mg vitamin C, lutein, athocyanosid (rau dền đỏ). Rau dền giàu vitamin A, B, C, PP và chứa gần 10 acid amin cùng nhiều dưỡng chất rất có lợi cho sức khỏe.

Rau dền ăn mềm, bổ dưỡng, dễ chế biến sử dụng thích hợp nhiều lứa tuổi. Nó còn là vị thuốc rất quý chữa táo bón, mụn nhọt, huyết áp tim mạch hiệu quả và một số bệnh liên quan đến nóng nhiệt.

Theo y học cổ truyền, rau dền canh có vị ngọt, tính mát. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát gan, lợi đại tiểu tiện, cầm máu, chữa nóng nhiệt, táo bón, kiết lỵ, tiểu buốt gắt, mụn nhọt, tăng huyết áp, gan nhiễm mỡ…

Những người bị bệnh huyết áp nên ăn rau dền.

Những người bị bệnh huyết áp nên ăn rau dền.

Những ai nên ăn rau dền?

Người bị huyết áp, tim mạch nên ăn rau dền, vì rau dền rất giàu kali 500mg, là chất có vai trò cho sự hoạt động bình thường của cơ tim. Rau dền tác dụng thanh nhiệt, mát gan, hỗ trợ điều trị tăng huyết áp “thể can hỏa vượng”, biểu hiện đau đầu chóng mặt, bốc nóng lên đầu… Ngoài ra, tác dụng lợi tiểu, giảm bớt thể tích máu cũng giúp hạ huyết áp.

Rau dền rất thích hợp với người đái tháo đường, kèm táo bón vì rau dền giàu magiê 105mg, là chất có vai trò chữa trị đái tháo đường, tăng huyết áp, táo bón…

Rau dền rất tốt cho trẻ em còi cọc chậm lớn và người thiếu máu thiếu sắt. Nếu trẻ em thiếu protein sẽ chậm lớn, tầm vóc thấp bé khi trưởng thành. Rau dền chứa nhiều protein, sắt.

Rau dền rất tốt cho người cao tuổi đau nhức do loãng xương, vì rau dền có chứa nhiều canxi, photpho, có vai trò ngăn ngừa loãng xương.

Một số món ăn bài thuốc có rau dền

Chữa đi lỵ táo bón: lá rau dền, lá mơ lông thái nhỏ trộn trứng gà thêm gia vị vừa đủ hấp ăn.

Chữa chứng người nóng nhiệt nổi mụn: rau dền đỏ 200g luộc ăn cả cái lẫn nước.

Hỗ trợ trị tăng huyết áp: rau dền khoảng 250g, trai đồng vài con cho thêm gia vị gừng hành vừa đủ nấu canh ăn tuần vài lần.

Chữa chứng viêm họng ho khan: rau dền 200g, lạc 100g, giã nhỏ nấu canh.

Chữa chảy máu đường tiết niệu, chảy máu đường tiêu hóa do nhiệt: rễ rau dền phối hợp với rễ bí tươi 40-60g hoặc khô 15-20g, sắc uống.

Lương y Minh Phúc

Ngũ vị tử an thần, liễm phế

Ngũ vị tử là quả chín phơi hay sấy khô của cây ngũ vị (Schisandra sinensis Baill.), thuộc họ ngũ vị tử (Schisandraceae). Nam ngũ vị tử là quả của cây nắm cơm (Kadsura japonica L.), cùng thuộc họ ngũ vị tử. Ngũ vị tử vị chua, tính ôn; vào kinh phế và thận, là vị thuốc trị viêm khí phế quản mạn tính gây hen suyễn, sốt, khát nước, hồi hộp, tim đập loạn nhịp, mất ngủ, giảm trí nhớ. Hằng ngày dùng 4 - 8g.

Ngũ vị tử được dùng làm thuốc trong các trường hợp:

Chữa chứng phế hư, ho hen suyễn: đảng sâm 12g, mạch môn đông 12g, ngũ vị tử 6g, tang phiêu tiêu 12g. Sắc uống.

Ngũ vị tử là quả chín phơi sấy khô của cây ngũ vị tử.

Chữa chứng cơ thể hư nhược, ra nhiều mồ hôi: bá tử nhân 125g, bán hạ 125g, mẫu lệ 63g, nhân sâm 63g, ma hoàng căn 63g, bạch truật 63g, ngũ vị tử 63g, đại táo 30 quả. Đại táo nấu nhừ, nghiền nát, loại bỏ hạt. Các vị khác nghiền chung thành bột mịn, nhào với nước đặc đại táo để làm hoàn bằng hạt ngô. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20 - 30 viên.

Chữa chứng tân dịch không đủ, miệng khô, khát nước: đảng sâm 12g, mạch đông 12g, ngũ vị tử 6g. Sắc uống.

Chữa suy nhược thần kinh: ngũ vị tử 40g, rượu 200ml, ngâm làm hai lần, mỗi lần 100ml, cách 10 ngày. Trộn 2 thứ rượu thuốc với nhau, có thể thêm ít nước cất cho loãng. Ngày 3 lần, mỗi lần uống 2,5ml.

Chữa suy nhược thần kinh, hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ: rượu 500ml, nhân sâm 10 - 20g, ngữ vị tử 30g, câu kỷ tử 30g. Ngâm 7 ngày. Uống trước khi đi ngủ 15 - 20ml.

Chữa hồi loạn nhịp tim, mất ngủ, thở gấp, vã mồ hôi, kích ứng, khát nước: tim lợn 1 cái, ngũ vị tử 9g. Tim lợn rạch mở, rửa sạch, cho ngũ vị tử vào, khâu lại, hầm cách thủy.

Chữa thận dương hư, hoạt tinh: tang phiêu tiêu 12g, ngũ vị tử 8g, long cốt 12g, Phụ tử 12g. Làm thành viên hoàn, hoặc sắc uống.

Chữa viêm gan mạn tính: ngũ vị tử sao khô tán mịn, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần. Đợt dùng 30 ngày, uống với nước sôi hoặc nước cơm, thêm chút muối đường.

Kiêng kỵ: người bên ngoài có biểu tà, trong có thực nhiệt không được dùng; người viêm khí phế quản mới có ho, sốt không dùng.

BS. Tiểu Lan


Rau cải bợ: giải nhiệt, thông tiện

Nhân dân ta hay hái về làm rau ăn sống, làm thuốc giải nhiệt, thông tiểu tiện, chữa bạch đới, khí hư, mất ngủ… Có nơi giã nát cây tươi để đắp lên những chỗ sưng đau, sưng vú, tắc tia sữa... Sau đây là 9 bài thuốc trị bệnh từ rau bợ:

1. Chữa chứng trong người quá nóng, sinh mụn nhọt: Ngày khoảng 18-20g rau bợ tươi rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt (thêm chút nước khi vắt cho lợi nước), hòa vào 1 bát nước, chia 3 lần uống trong ngày, bã đắp chỗ mụn (Hoa hạ kỳ phương).

Rau bợ

Rau bợ làm rau ăn sống, làm thuốc trị bí tiểu, mụn nhọt.

2. Chữa bí tiểu, tiểu nóng: rau bợ (cả cuống) nửa cân phơi khô tự nhiên, mỗi ngày dùng 16g rau bợ khô, sắc với 3 bát nước, còn 1 bát thì chia làm 3 lần uống, cách nhau 3 giờ, uống liền trong 2 - 3 ngày thì khỏi. Số rau bợ khô còn lại 3 ngày sắc uống 1 lần, liều lượng như trên thì bệnh dứt hẳn (Hoa hạ kỳ phương).

3. Chữa bạch đới: Ngày dùng 20g rau bợ khô (phơi khô tự nhiên trong mát) sắc với 3 bát (ăn cơm) nước còn 1 bát, chia làm 3 lần uống trong ngày, mỗi lần uống cách nhau 3 - 4 giờ, uống nóng. Đồng thời dùng khoảng 32g rau bợ khô, nấu 1 nồi nước, pha thêm chút nước để cho bớt nóng, đổ ra chậu, ngồi ngâm và rửa kỹ cửa mình (âm hộ). Có thể tăng thêm lượng rau nấu cho nước ngâm đặc thêm càng tốt (Hoa hạ kỳ phương).

4. Chữa chứng sưng vú (vú và núm vú bị sưng đau): dùng 1 nắm rau bợ tươi rửa sạch, giã nát, trộn với 1 ít nước vắt lấy nước cốt, hòa vào 1 ly nước đun sôi để nguội, chia làm 2 lần uống trong ngày, bã đắp lên chỗ bị sưng đau. Dùng phương này liền trong 2-3 ngày thì khỏi (Dã Thái trị bách bệnh dân gian liệu pháp).

Cỏ chua me

Cỏ chua me (dễ nhầm lẫn với rau bợ).

5. Chữa tắc tia sữa: dùng 20g rau bợ khô, sắc với nửa siêu nước, còn 1 bát chia làm 2 lần uống trong ngày, cách nhau 4 giờ, bã dùng vải bọc khi còn đang nóng chườm, vuốt xuôi từ trên vú xuống (Đắc hiệu phương).

6. Chữa bỏng:hái lá rau bợ tươi, rửa sạch, giã nát đắp lên chỗ bị bỏng. Rất hay (kinh nghiệm dân gian).

7. Trị đái tháo đường, tiêu khát: cỏ bợ khô và thiên hoa phấn lượng bằng nhau, tán nhỏ, hòa với sữa uống.

8. Sưng lở, nổi mẩn do nhiệt: cỏ bợ tươi giã nát để xoa hoặc vắt lấy nước uống.

9. Sỏi thận, sỏi bàng quang: cỏ bợ tươi giã nát, thêm nước, gạn lấy nước uống vào buổi sáng, mỗi lần 1 bát, liên tiếp 5 ngày. Dùng riêng hoặc phối hợp với ngọn non cây dứa dại 20g, cây ngải cứu 10g, cây phèn đen 10g. Thêm nước gạn uống.

Lưu ý: Tránh nhầm cỏ bợ với cỏ chua me lá hình tim chụm lại.

BS. PHÓ THUẦN HƯƠNG

Tỏi

Tỏi là loại gia vị không thể thiếu trong rất nhiều món ăn. Đặc biệt, nó còn được nhiều quốc gia dùng làm thuốc phòng trị nhiều bệnh rất độc đáo.

Theo Sách Dược tính chỉ nam: “Tỏi vị thuốc gọi Đại toán, vị cay tính ấm, có độc, tác dụng thông được 5 tạng, lợi được các khiếu, khai vị kiện tỳ trừ được chứng khí lạnh, chứng ôn dịch tiêu được những độc ung nhọt, phá được chứng trưng hà báng tích, tiêu được thức ăn bằng cá bằng thịt, giải được nọc rắn, chứng trúng nắng mê man, chứng đổ máu cam…”.

Tài liệu gần đây cho biết dùng tỏi giảm mỡ máu, ngăn ngừa huyết áp, tim mạch… Tỏi còn được coi như một loại kháng sinh đa năng có thể ức chế trên 70 loại vi khuẩn, siêu vi, ký sinh trùng. Sau đây là một số món thuốc dùng tỏi:

Chữa viêm mũi dị ứng: khi gặp lạnh hắt hơi, ngứa mũi chảy nước mũi. Dùng tỏi vài tép cắt ra từng lát đắp lòng bàn chân (huyệt dũng tuyền).

Tỏi giã nát đắp lòng bàn chân (huyệt dũng tuyền) trị chảy máu cam rất hiệu quả.

Chữa chứng trẻ em chảy máy cam do hư hoả: Dùng tỏi giã nát rịt lòng bàn chân (dũng tuyền). Nếu chảy máu cam bên mũi phải, đắp tỏi lòng bàn chân bên trái và ngược lại bên đối diện.

Chữa chứng cước khí: khi gặp gió rét, hơi lạnh đám ma làm chân tay sưng đau, dùng tỏi giã nát xát vào hai bàn chân, nơi đau cho nóng lên là yên.

Chữa tâm hàn thống: khi gặp lạnh, tâm hồi hộp, tức ngực khó thở. Dùng tỏi ngâm giấm ngày ăn 2 - 4 tép.

Chữa mỡ máu cao: người thừa cân, mỡ máu cao, bụng đầy chậm tiêu do tỳ hư thấp trệ. Dùng tỏi xào bông bí hoặc hoa lý ăn tuần vài lần.

Chữa béo phì, mỡ máu cao, tăng huyết áp: Dùng tỏi ngâm dấm, ăn ngày 2-3 tép, nên ăn nhiều ngày.

Chữa tăng huyết áp: Dùng tỏi ngâm dấm ăn ngày 2-3 tép. Hoặc đậu trắng 100g, tỏi 100g cho 2 lít nước nấu còn 1 chén uống 3 lần trong ngày, một tháng ăn một vài lần.

Chữa trị cảm cúm: Dùng tỏi giã nhỏ hãm nước sôi chắt lấy nước, nhỏ vào mũi cho mọi người trong ngày vài lần.

Chữa khớp chân sưng đau: tỏi 30g, rau chân vịt 200g, cà rốt, khoai tây gia vị hầm ăn tuần vài lần.

Chữa rắn cắn: dùng tỏi giã vắt lấy nước cốt uống, bã đắp nơi rắn cắn.

Chữa bụng đầy đau: sau khi ăn thịt cá bụng đầy đau khó tiêu. Dùng 1 vài nhánh tỏi khô hoặc tỏi tươi ăn sống.

U xơ tử cung, u xơ tuyến tiền liệt: dùng tỏi non làm gỏi, làm rau ăn, tỏi củ xào rau cải hoặc hoa lý ăn tuần vài lần.

Kiêng kỵ: tỏi vị cay tính ấm, không nên dùng với người đau mắt sưng đỏ (can hoả), chứng ho khan đàm vàng (phế nhiệt), lưng nóng đi tiểu vàng, ít do thận hoả, người hay bị lở miệng, môi nứt do vị hoả; người bứt dứt khó ngủ do tâm hỏa; người mắc các chứng xuất huyết, chảy máu, người nóng “do hỏa” cần nên kiêng tỏi.

Lương y: Minh Phúc

Hoa chơi tết đều là vị thuốc quý!

Hoa đào: tính bình, vị đắng, không độc. Lợi đại tiểu tiện, trục giun sán, tan sỏi thận, thông kinh huyết, hóa đàm, chữa điên loạn. Có sách nói nếu hoa đào để nguyên cuống có tác dụng mát máu, giải độc, chữa lên sởi, lên đậu. Cách dùng sắc uống hoặc tán bột 4 - 8g. Dùng ngoài tán bột rắc lên vết thương hoặc giã đắp. Không dùng cho người có thai.

Chữa thủy thũng:hoa đào lượng vừa đủ, nghiền bột mỗi lần lấy 6g cho vào nước cháo loãng, uống lúc đói. Ngày 3 lần hoặc nấu cháo hoa đào ăn.

Chữa táo bón: bột hoa đào 30g bột mì 100g làm bánh ăn hoặc bột hoa đào 10g, chia 2 lần hòa nước ấm uống lúc đói.

Hoa đào để nguyên cuống có tác dụng mát máu, giải độc, chữa lên sởi, lên đậu

Hoa đào để nguyên cuống có tác dụng mát máu, giải độc, chữa lên sởi, lên đậu

Đau eo lưng: hoa đào 100g, gạo nếp 500g, hoa đào giã vụn, trộn gạo nếp cho nước nấu thành cơm khô để nguội rồi cho men rượu ủ thành cơm rượu dùng dần.

Bế kinh: hoa đào 25g ngâm vào 250ml rượu trong 1 tuần. Mỗi lần uống 10ml hòa với nước ấm hoặc hoa đào 10g cho vào cơm rượu 50g trộn đều, chưng cách thủy cho nhừ hoa để bớt nóng, ăn cả cơm và hoa. Ngày 1 lần, liền 1 tuần.

Sỏi thận: hoa đào, hổ phách lượng bằng nhau. Nghiền hoa đào trộn đều với hổ phách mỗi lần 6g cho vào 1 tô lớn nước, nấu trong nửa giờ, lọc lấy nước uống. Ngày 2 lần.

Mặt bị phong lở ngứa: hoa đào, nhân hạt bí đao, lượng bằng nhau. Gộp 2 thứ tán bột hòa mật mía, bôi vào chỗ lở ngứa.

Hoa mai trắng: mai trắng được nói nhiều về dược tính của nó từ lâu đời, so với mai vàng. Mai trắng tính mát vị chua chát không độc. Công năng khai vị, tan uất kết, bình can hòa vị, lợi phế khí, hóa đàm, an thần định phách giải đậu độc. Dùng dạng sắc, bột hoặc viên hoàn, đắp dán ngoài.

Chữa mất ngủ: hoa mai trắng 5g, hoa hợp hoan 10g, rượu cúc 50ml, cho 2 hoa vào rượu chưng cách thủy cho nhừ hoa để ấm, uống sau bữa cơm tối 1 giờ.

Chữa chán ăn: hoa mai trắng 6g, hoa đậu ván trắng 15g, quả sơn tra khô 20g, trộn đều 3 thứ rồi chia đều 3 phần để dùng làm 3 lần. Khi dùng lấy 1 phần cho vào ấm rót nước sôi già để cho nguội bớt, rót ra uống.

Chữa viêm họng: hoa mai trắng 6g, hoa dành dành 5g, trà xanh 20g, gộp 3 thứ lại trộn đều chia ra 5 phần để dùng mỗi lần 1 phần cho vào tách nước sôi già cho ngấm rồi uống.

Chữa trúng nắng: nước cất hoa mai trắng, nước cất hoa kim ngân, mỗi thứ 50ml hòa 2 thứ lại, thêm 1 lượng nước 100ml đun sôi để nguội chia 2 lần uống. Mùa hè nắng gắt, trước khi đi ra nắng nên uống nước này phòng trúng nắng.

Phòng chữa lên sởi, lên đậu: hoa mai 100 bông hái vào sáng sớm khi còn đẫm sương của tháng 12 âm lịch. Đem số hoa đó ướp vào đường trắng, mỗi lần ăn 3 - 5 bông. Ngày ăn 3 lần.

Đậu mùa mới phát: hoa mai trắng phơi khô tán bột nhào mật mía viên bằng hạt đậu xanh 1 tuổi uống 1 viên. Thêm mỗi tuổi uống thêm 3 viên. Ngày 3 lần với nước nóng.

Hoa hải đường: tính lương, vị chua đắng, vào 2 kinh tâm - can. Công năng hoạt huyết tán ứ, lương huyết, chỉ huyết, điều kinh chỉ đới, an thần, ích can, lợi đởm. Dùng chữa các trường hợp xuất huyết, thổ huyết, ho ra máu, chảy máu cam, kinh nguyệt không đều, băng lâu đới hạ, lỵ.

Phong thấp tý: hải đường 8g, cốt toái bổ 12g, tang ký sinh 16g, nấu nước uống thay trà.

Hoa hải đường

Hoa hải đường

Kinh nguyệt không đều, băng đới: hải đường 12g, đương quy 8g, nấu nước uống.

Thổ huyết, tức ngực, đoản hơi: hải đường 12g, cát cánh 8g, phổi lợn 200g. Nấu chín uống nước, có thể ăn phổi.

Cường kiện, khỏe lưng, chân: hoa hải đường 10 bông, cá thu đủ ăn 1 - 2 bữa. Nấu hoa với cá bằng lửa to cho sôi rồi hạ lửa, cho 1 thìa rượu, gia vị.

Hoa đỗ quyên: tính ôn, vị chua, vào 2 kinh can tỳ. Có công năng hòa huyết, điều kinh, hóa đờm, giảm ho, chữa phong thấp, chống ngứa. Chữa kinh nguyệt không đều, bế kinh băng lậu, trật đả chấn thương, thổ huyết, chảy máu cam.

Hoa đỗ quyên

Hoa đỗ quyên

Ho, thổ huyết: hoa đỗ quyên 12g sắc uống thay trà.

Mệt mỏi, bồn chồn: hoa đỗ quyên với hoa hồng đều 8g. Hãm uống nóng thay trà.

Phụ nữ khí hư ra nhiều: hoa đỗ quyên 1 bông, móng lợn 2 bộ. Móng lợn rửa thật sạch, bổ đôi, trần nước sôi để ráo. Hoa đỗ quyên bỏ nhị, rửa sạch để ráo. Cho tất cả vào nồi với 4 bát nước. Đun sôi nhỏ lửa trong nửa gờ. Nêm gia vị ăn cái uống nước.

Phụ nữ kinh nguyệt không đều, thân thể khô gầy: hoa đỗ quyên 5 bông, gan lợn 5 lạng, hành củ 1 củ, rượu 1/2 thìa, gia vị vừa đủ, 3 bát nước nấu sôi gan lợn rồi mới cho hoa đỗ quyên vào cùng gia vị.

Điều kinh, trừ phong thấp: hoa đỗ quyên 3 bông tách rời từng cánh, rửa sạch để ráo. Cho vào ấm con khoảng 200ml nước sôi kỹ. Uống thay trà.

Hoa thủy tiên: tính hàn, vị cay đắng vào 3 kinh tâm - phế - can. Hơi có độc! Có công dụng khu phong, tán nhiệt, hoạt huyết điều kinh tiêu thũng, giải độc. Chữa ung thũng nhọt độc, viêm tuyến vú cấp, viêm tuyến mang tai…

Răng, sưng đau, cổ gáy đau: hoa thủy tiên 8g, đường trắng một ít. Sắc uống.

Tiểu tiện không thông, trướng bụng: củ thủy tiên 1 củ rửa sạch bỏ vỏ thô, dùng dao thái nhỏ giã nhuyễn đắp vào lòng bàn tay, bàn chân (huyệt dũng tuyền).

Mụn nhọt đinh độc: củ thủy tiên và hoa giã nhuyễn đắp tại chỗ. Nếu phối hợp rễ cây thuốc, lá phù dung càng tốt.

Bộ phận có độc: toàn cây nhất là phần thân hành (củ) triệu trứng ngộ độc. Nôn mửa, thở nhanh, sốt, co giật cơ. Giải độc nên đưa đến bệnh viện cấp cứu. Nếu cần sơ cứu thì gây nôn, uống lòng trắng trứng gà…

Hoa cúc vàng: vị đắng, tính bình. Chủ trị các chứng phong, váng đầu, sưng đau mắt, chảy nước mắt sống, da thịt teo cứng, chứng ác phong tê bại, làm lợi huyết mạch, trị các chứng nhọt độc, lở loét ngoài da, làm đẹp da. Thanh can nhiệt, hoa cúc dùng làm thuốc. Lá non có thể làm món ăn sống hay nấu cháo, canh, pha ướp trà, nấu rượu. Hoa cúc cũng dùng tươi nấu canh, khô pha trà.

Hoa cúc

Hoa cúc

Chữa chứng nhìn lâu mỏi mờ mắt dùng hoa cúc làm gối. Hoa cúc 2kg phơi khô làm ruột gối đầu. Dùng thời gian 1 - 2 tháng sẽ có hiệu quả.

Công dụng và cách dùng đã có nhiều hướng dẫn trong các sách thuốc xưa và nay. Ngoài cách dùng trong còn dùng hoa, lá được dùng đắp, rửa các bệnh ngoài da như: mụn, nhọt, lở loét.

Hoa hướng dương: bộ phận dùng làm thuốc: hoa, đài hoa, lá, tủy cành, rễ và hạt. Hoa hướng dương tính ôn, vị ngọt, vào hai kinh can, phế, có công năng khư phong, sáng mắt, thông thoáng mao khổng ở da, chữa đau đầu, huyễn vựng, mặt má sưng và đau răng…

Trị ho, đờm suyễn, nhuận phế nhất là chữa ho gà, thông yết hầu, đẹp nhan sắc: dùng hoa hướng dương từ 1 - 2 đóa, thêm đường phèn sắc uống.

Trị đầu choáng mắt hoa, đau đầu khó chịu, mặt má sưng đau, ngực đầy, ngắn hơi...: dùng hoa hướng dương 3 - 5 đồng, sắc uống hoặc chưng thành thang rồi thêm 1-2 quả trứng gà nấu kỹ.

Chữa chứng nổi mề đay, dễ cảm phong hàn, da dẻ quá mẫn cảm, phong chẩn nổi cục: dùng hoa hướng dương 3 đồng, hoa mào gà trắng 2 đồng, lá tử tô 5 đồng sắc uống thay trà có thể thêm đường phèn lượng thích hợp.

Chữa viêm khớp, vô danh ủng thống (phù thũng không rõ nguyên nhân), viêm tuyến vú: dùng hoa hướng dương lượng thích hợp sắc đặc thành dạng cao, đắp vào chỗ đau.

Chữa huyết áp cao: hoa hướng dương 60g, râu ngô 30g, đường đỏ 10g. Hoa hướng dương và râu ngô cho cùng nước sắc lấy 200ml, cho đường vào quấy đều chia làm ba lần uống trong ngày, cần uống ba đợt, mỗi đợt 10 ngày, giữa các đợt cần nghỉ là 5 ngày.

Chữa chứng mờ mắt: đài hoa hướng dương lượng đủ dùng, đập vào 1 quả trứng gà, đổ thêm nước nấu chín nhừ, ăn cái uống nước.

Chữa chứng nhức răng: đài hoa hướng dương 1 cái, rễ câu kỷ 1 nhúm, luộc chung với 1 quả trứng gà, khi trứng chín bóc bỏ vỏ, dùng tăm đâm vào trứng cho ngấm thuốc rồi nấu tiếp 1 lúc thì vớt trứng ăn.

BS. PHÓ THUẦN HƯƠNG

Chữa ho bằng hoa ngọc lan

Dưới đây là một số phương trị bệnh từ hoa ngọc lan.

Chữa trị ho: Hoa ngọc lan 30g, mật ong 40g, cho cả hai thứ vào bát, hấp cách thủy khoảng 20 – 30 phút sau mang ra để ăn.

Chống ho làm long đờm, lợi tiểu tiện: Hoa ngọc lan 15g, hải triết bì 2 mảnh, 1 quả dưa hồng, 1 củ cà rốt, 5 củ tỏi, 15ml dấm trắng, 5ml dầu thơm, 1 thìa xì dầu, 1 thìa đường. Hoa ngọc lan rửa sạch, bóc cánh thái nhỏ. Hải triết bì ngâm, rửa sạch, khử mùi tanh. Dưa rửa sạch, bỏ cuống rồi thái nhỏ. Cà rốt cạo vỏ, thái nhỏ. Trộn các nguyên liệu trên, thêm gia vị, rồi để hoa ngọc lan đã thái nhỏ lên trên, đổ nước đủ dùng, sắc uống ngày 1 thang.

hoa ngọc lan chữa hoHoa ngọc lan.

Chữa chứng ho, sưng đau yết hầu:

Lấy 20g hoa ngọc lan khô đem tẩm với mật ong trong 3 ngày rồi hãm uống như trà. Bài thuốc này có tác dụng chữa chứng ho do nhiễm lạnh, đau đầu, hoa mắt, tức ngực.

Chữa ho gà: Ngọc lan hoa trắng 8 cái, lá chanh 10g, gừng 3g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Uống 5 ngày liền.

Chữa viêm phế quản: Ngọc lan hoa trắng 7 hoa, hoa hồng bạch 5 hoa, mật ong 15ml. Tất cả cho vào bát hấp cách thủy, chia 3 lần uống trong ngày. Uống liền 3 – 5 ngày.

Làm nhuận da, kích thích tiêu hóa:6g hoa ngọc lan, 1 thìa trà xanh. Hoa ngọc lan rửa sạch bằng nước muối, vẩy cho ráo nước, để vào bát. Rót nước sôi vào bát, sau đó cho trà xanh vào. Hãm uống thay trà trong ngày.

Cải thiện thống kinh: Dùng 10g hoa ngọc lan chưa nở sắc uống thay trà vào buổi sáng. Một liệu trình là 30 ngày.

BS. Hoàng Xuân Đại

Hoa gạo: Tiêu viêm, giảm đau

Dưới đây xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo và áp dụng khi cần.

Chữa viêm dạ dày và ruột cấp tính, tiêu chảy, đại tiện ra máu: Dùng 1 trong số bài thuốc sau:

Bài 1: hoa gạo 60g nấu với nước, thêm mật ong hoặc đường phèn, uống trong ngày.

Bài 2: hoa gạo, hoa kim ngân, phượng vĩ thảo mỗi vị 15g, sắc uống.

Bài 3: hoa gạo 30g sắc uống, chia làm 3 lần, uống trong ngày.

Chữa sưng đau vú sau sinh: rễ hoặc vỏ thân cây hoa gạo 30g sắc uống.

Chữa các bệnh viêm khớp, đau lưng, phong tê thấp: vỏ thân cây gạo 20g nấu lấy nước, bỏ bã, hòa vào chút rượu, uống lúc nóng, ngày 2 lần.

Hoa gạo: Tiêu viêm, giảm đauHoa gạo có tác dụng giảm đau khớp.

Trị vết thương phần mềm, chấn thương sưng đau: rễ và vỏ thân cây gạo ngâm với rượu, xoa bóp ngoài hoặc đem giã nát đắp vào nơi tổn thương.

Trị đau răng: vỏ thân cây gạo 20g sắc đặc, ngậm nhiều lần trong ngày.

Chữa viêm khí phế quản cấp tính: rễ gạo 30g sắc uống.

Trị ho có đờm: hoa gạo 15g, ngư tinh thảo (rau diếp cá) 15g, tang bạch bì 10g sắc uống.

Trị ho ra máu: hoa gạo 14 bông sắc kỹ, chế thêm một chút đường phèn, chia uống vài lần trong ngày.

Chữa viêm dạ dày: rễ, hoa hoặc vỏ thân cây gạo 30g sắc uống. Hoặc dùng bài: rễ, hoa hoặc vỏ thân cây gạo 30g, rễ cây lưỡng diện châm 6g sắc uống.

Chữa trĩ xuất huyết: hoa gạo 20g, quyển bá 10g, hòe hoa 15g sắc uống.

Chữa bong gân: Dùng 1 trong số bài thuốc sau:

Bài 1: vỏ cây gạo 16g (cạo bỏ vỏ ngoài, sao rượu), lá lốt 16g (sao vàng) sắc với 750ml nước, cô còn 250ml, chia uống 2 lần trong ngày.

Bài 2: lá náng, quả đu đủ non và vỏ thân cây gạo lượng bằng nhau rửa sạch, giã nhuyễn, băng vết thương.

Bài 3: rau má tươi, vỏ thân cây gạo tươi, vòi voi tươi và bồ công anh tươi lượng bằng nhau rửa sạch, giã nát, bó vào nơi tổn thương.

BS. Nguyễn Thị Ngọc Lan

Chữa bệnh bằng hoa cúc ngày Tết

Theo các chuyên gia phong thủy, cúc là loài hoa tượng trưng cho phẩm chất cao đẹp, trường thọ, phúc lộc và niềm an vui. Chính vì lẽ đó mà cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, người ta lại dùng những chậu cúc xinh tươi đặt trước cổng và thềm nhà với mong muốn về một năm mới dồi dào sức khỏe, tăng thêm phúc lộc. Ngoài dùng làm cảnh, hoa cúc còn nổi tiếng là vị thuốc y học cổ truyền với nhiều công dụng chữa bệnh tuyệt vời.

Hoa cúc và các dược tính y học

Hoa cúc có nhiều loại khác nhau, nhưng có hai loại thường được dùng nhiều nhất trong y học là cúc hoa vàng và cúc hoa trắng.

Theo y học cổ truyền, cúc hoa trắng vị đắng, tính bình (Bản Kinh), vị ngọt, không độc (Biệt Lục), vị đắng mà ngọt, tính hàn (Thang Dịch Bản Thảo); quy vào các kinh phế, tỳ, can, thận; có tác dụng tán phong thanh nhiệt, bình can, minh mục, giải sang độc. Cúc hoa vàng vị đắng cay, tính ôn, quy vào 3 kinh phế, can, thận, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, minh mục, giáng áp. Cả hai thường được sử dụng để chữa các chứng cảm lạnh, sốt, chóng mặt, nhức đầu, đau mắt đỏ, chảy nhiều nước mắt, mờ mắt, huyết áp cao, đinh độc, mụn nhọt sưng đau. Uống lâu ngày lợi huyết, có tác dụng về nội tiết làm trẻ lâu.

Ngày nay, y học hiện đại đã chứng minh được một số tác dụng của hoa cúc như: Tác dụng hạ huyết áp trên động vật thực nghiệm và thử nghiệm lâm sàng trên người có bệnh tăng huyết áp; tác dụng chữa cảm phong hàn (từ bài thuốc gồm cúc hoa vàng cùng với 5 vị thuốc khác) làm hết sốt ở 80% số bệnh nhân sau ngày điều trị thứ nhất; tác dụng chống viêm kháng khuẩn từ hoạt chất được chiết xuất từ hoa cúc (ức chế khá mạnh các chủng vi khuẩn như phế cầu, liên cầu khuẩn tan máu, tràng cầu khuẩn, tụ cầu vàng, các trực khuẩn lỵ Shiga, Sonne, trực khuẩn subtilis, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn coli…); tác dụng tăng cường thị lực và tác dụng an thần ở những bệnh nhân suy nhược thần kinh loại hưng phấn tăng do sang chấn tinh thần.Cúc hoa trắng (bạch cúc).

Cúc hoa trắng (bạch cúc).

Bài thuốc từ hoa cúc chữa nhiều bệnh:

Chữa ho, sốt, cảm:

Bài thuốc “Tang cúc ẩm” trị sốt, ho, cảm mạo: cúc hoa vàng, lá dâu mỗi vị 6g; liên kiều, bạc hà, cam thảo, cát cánh mỗi vị 4g, sắc cùng 600ml nước đến khi còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa cảm sốt: cúc hoa vàng, địa liền mỗi vị 5g; cúc tần, lá tre, bạc hà, kinh giới, tía tô, cát căn mỗi vị 20g. Tán thuốc bột hoặc chế thành thuốc viên, uống mỗi ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 4 - 6g.

Chữa cảm phong hàn (chủ yếu có cảm giác lạnh): cúc hoa vàng 5g, địa liền 5g; bạc hà, kinh giới, tía tô, cát căn mỗi vị 20g. Sắc uống.

Trị đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, suy nhược thần kinh và các chứng bệnh về mắt:

Bài thuốc “Kỷ cúc địa hoàng hoàn” trị mắt khô, hoa mắt, chóng mặt: kỷ tử 20g, thục địa 32g; cúc hoa vàng, đan bì, phục linh, trạch tả mỗi vị 12g; sơn thù, hoài sơn mỗi vị 6g. Các dược liệu sấy khô, tán nhỏ, luyện mật, vo viên bằng hạt ngô, ngày dùng 3 - 4 lần, mỗi lần 16 - 20 viên. Nếu sắc uống thì mỗi loại giảm bớt 1/6.

Bài thuốc “Cúc hoa trà điều tán” trị hoa mắt, chóng mặt, mắt đỏ, mũi tắc: cúc hoa vàng, xuyên khung, kinh giới, bạc hà, phòng phong, khương hoạt, hương phụ, cam thảo, bạch chỉ, tế tân, khương tàm (các vị bằng nhau). Trộn đều, tán nhỏ, mỗi lần uống 4 - 6g, sau bữa ăn, dùng nước chè chiêu thuốc.

Trị chóng mặt theo “Thái Thanh Kinh Bảo Phương”: bạch cúc hái vào ngày trùng cửu – ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch, lấy hoa 2 cân; phục linh 1 cân, tán bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 8g với rượu nóng.

Bài thuốc “Cấp cứu phương” trị mắt có màng mộng sau khi bị bệnh: bạch cúc hoa, thuyền thoái, 2 vị lượng bằng nhau, đem tán bột. Mỗi lần dùng 2 - 12g trộn với một ít mật, sắc.

Bài thuốc “Kỷ cúc địa hoàng thang gia vị” chữa âm hư hỏa vượng (triệu chứng: hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ù tai hay quên, hồi hộp, hay xúc động, ít ngủ, miệng khô, táo bón, nước tiểu đỏ): cúc hoa vàng 8g; kỷ tử, thục địa, hoài sơn, câu đằng, sa sâm, mạch môn mỗi vị 12g; sơn thù, trạch tả, đan bì, phục linh, táo nhân, bá tử nhân mỗi vị 8g. Sắc uống, ngày 1 thang.

Chữa can âm hư, thường gặp ở phụ nữ tiền mãn kinh, tăng huyết áp và xơ vữa động mạch ở người già, suy nhược thần kinh (triệu chứng: nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, lưỡi khô): cúc hoa vàng 8g; kỷ tử, hà thủ ô, thục địa, sa sâm, đỗ đen sao mỗi vị 12g; tang thầm, long nhãn, mạch môn mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa suy nhược tâm thần với các triệu chứng chóng mặt, mệt mỏi, kém trí nhớ, mất ngủ: cúc hoa trắng 20g, toan táo nhân 25g; đương quy, phục linh, sinh địa, kỷ tử mỗi vị 20g; viễn chí, tục tùy tử, mạch môn, bạch truật mỗi vị 15g; xuyên khung, hoàng bá, nhân sâm mỗi vị 10g; nước 800ml sắc còn 300ml, chia 2 lần, uống trong 5 ngày.

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có xơ vữa động mạch, chóng mặt, ù tai và những triệu chứng chủ quan khác: cúc hoa trắng 10g, sinh địa 25g, vỏ ngọc trai 25g, sơn dược 15g, phục linh 12g, sơn thù du 12g, mẫu đơn 10g, lá dâu 10g, nước 800ml. Sắc còn 300ml chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có bệnh thận: cúc hoa trắng 10g; phục linh, sinh địa, sơn dược, thạch hộc mỗi vị 12g; kỷ tử, sơn thù du, trạch tả mỗi vị 10g; mẫu đơn 6g, nước 800ml. Sắc còn 300ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có suy tim, chóng mặt, thở hổn hển, ra mồ hôi, có triệu chứng ứ trệ máu: cúc hoa trắng 6g, mạch môn 15g, hà thủ ô đỏ 15g; sinh địa, đương quy, ngũ vị tử, táo ta, huyền sâm mỗi vị 10g; phục linh, thạch xương bồ, cam thảo, đảng sâm mỗi vị 6g, chi tử 3g. Sắc uống.

Chữa nhọt ống tai ngoài: cúc hoa vàng 12g; bồ công anh, sài đất, kim ngân hoa, kê huyết đằng mỗi vị 16g; hoàng liên, sinh địa mỗi vị 12g, chi tử 8g. Sắc uống.

Chữa đinh râu: hoa và lá cúc hoa vàng 80g, bồ công anh 80g, giã nát, lọc lấy nước uống, đắp bã tại chỗ.

Chữa đinh nhọt, mụn nhọt có mủ theo Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách:bạch cúc hoa 160g, cam thảo 20g, sắc uống.

Chữa viêm não Nhật Bản B: cúc hoa trắng 10g, thạch cao 3g, liên kiều 10g, kim ngân hoa 10g, cam thảo 6g, hoàng cầm 6g, thanh cao 6g, dành dành 5g, cát cánh 5g, bạc hà 2g, nước 300ml. Sắc trong 20 phút, uống tất cả mỗi lần.

Chữa co giật, hôn mê do sốt cao ở thời kỳ toàn phát các hội chứng nhiễm độc não, viêm não, viêm màng não: cúc hoa vàng 12g; sinh địa, thạch cao, thảo quyết minh mỗi vị 20g; câu đằng 16g. Nếu mắt đỏ, thêm long đởm thảo 8g; khò khè do ứ động dịch tiết, thêm trúc lịch 30ml; lưỡi đỏ, miệng khô thêm mạch môn 12g, thiên hoa phấn 8g. Sắc uống.

Làm đẹp da, tăng tuổi thọ - Đây là tác dụng được các cung tần mỹ nữ Trung Hoa thời xưa đặc biệt chú ý. Trong cuốn “Từ Hy Quang Tự y phương tuyển nghị” của Trần Khả Dực (đời Thanh) có trích phương thuốc bí truyền “Cúc hoa diên linh cao” do Trương Trọng Nguyên và Đào Bảo Sinh chế cho Từ Hy Thái Hậu, có tác dụng làm cho làn da trở nên hồng hào, tươi mịn, dung nhan bất suy và trường thọ. Thành phần của bài thuốc gồm: 2kg cánh hoa cúc tươi nấu cùng với nước, loại bã, lấy phần nước cô đặc lại rồi trộn với mật ong để nấu thành cao. Ngày dùng 1 - 3 lần, mỗi lần 12 - 15g, uống cùng nước sôi để nguội.Cúc hoa vàng (kim cúc).

Cúc hoa vàng (kim cúc).

Sách “Bảo Phác Tử” của Cát Hồng đời Tần cũng ghi lại bài thuốc “Bột cúc hoa” làm tăng sắc đẹp: bạch cúc nửa cân hái vào đúng ngày 9 tháng 9 âm lịch, Phục linh nửa cân. Đem tán bột rồi trộn đều. Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 6g với rượu ấm.

Bài thuốc “Dưỡng thọ đơn” trong “Ngự dược viên phương’ của Hứa Quốc Trinh giúp bồi bổ ngũ tạng, làm đẹp dung nhan, khỏe mạnh, lâu già: bạch cúc hoa, địa cốt bì, câu kỷ tử, thỏ ty tử, phúc bồn tử, viễn chí, thạch xương bồ, ba kích, bạch truật, phục linh, tục đoạn, tế tân, thục địa, xa tiền tử, hà thủ ô, nhục thung dung mỗi thứ 3 lạng, tán bột, luyện với mật ong, viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 10g, ngày 2 lần lúc bụng đói.

Bài thuốc “Cam cúc phương” kéo dài tuổi thọ: Hái mầm cúc vào thượng tuần tháng 3, lá cúc vào tháng 6, hoa cúc vào tháng 9, nhổ cả cây, rễ vào tháng 12, cả 4 thứ phơi trong râm cho khô, lấy số lượng bằng nhau đem tán nhỏ. Liều dùng ngày 3 lần, mỗi lần 1 đồng cân hoặc luyện với mật ong, làm viên bằng hạt ngô, dùng ngày 3 lần, mỗi lần 7 viên. Uống liên tục trong 100 ngày.

Tiến sĩ - Lương y Phùng Tuấn Giang (Thọ Xuân Đường)

Trị viêm họng với cây bông phấn

Cây bông phấn còn có tên khác là hoa phấn, sâm ớt, phấn đậu hoa, ngân chi hoa đầu, thủy phấn tử hoa. Theo Đông y, bông phấn có vị mặn, hơi cay, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tán ứ, tiêu viêm, lợi tiểu, thường dùng chữa viêm họng, kinh nguyệt không đều, viêm đường tiết niệu,...

Cây bông phấn.

Cây thường được trồng làm cảnh và làm thuốc. Bộ phận dùng làm thuốc là rễ hoặc toàn cây.

Quả bông phấn.

Một số đơn thuốc có sử dụng bông phấn

- Viêm họng: Bông phấn 20g, bồ công anh 15g, kim ngân hoa 12g, cam thảo đất 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 5-7 ngày.

- Chữa kinh nguyệt không đều: Bông phấn 20g, ích mẫu 30g, ngải cứu 25g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần. Hoặc: Bông phấn 20g, ích mẫu, rễ củ gai mỗi thứ 16g; ngải cứu, cỏ xước, cam thảo nam, mỗi thứ 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 3 ngày, trước kỳ kinh 5 ngày.

- Chậm kinh: Bông phấn 20g, ích mẫu 16g, ngải cứu 1g, nghệ đen 20g, lá móng tay 20g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống trước kỳ kinh 10 ngày.

- Viêm đường tiết niệu (đái buốt, đái rắt): Bông phấn 20g, mã đề 20g, râu ngô 16g, kim ngân hoa 16g, cỏ xước 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 1 tuần.

- Dưỡng da: Lấy những quả chín đen, phơi khô, bóc bỏ vỏ đen bên ngoài và vỏ lụa màu vàng bên trong, chỉ dùng bột phấn. Hàng ngày vào buổi sáng và tối, lấy bột phấn này trộn lẫn với một chút mật ong thoa đều lên mặt, để khoảng 30 phút rồi rửa sạch lại bằng nước ấm. Làm thường xuyên có công dụng dưỡng da, giảm vết nám và tàn nhang.

Lưu ý: Không dùng cho phụ nữ có thai.

Bác sĩ Nguyễn Thị Nga